Thịt sạch nhập ngoại tràn vào Việt Nam: Mừng hay lo?


(Người Chăn Nuôi) - Việt Nam là nước có tổng đàn heo chỉ đứng sau Trung Quốc ở khu vực châu Á, và chủ yếu đáp ứng nhu cầu tiêu thụ nội địa. Điều đó chứng tỏ sức tiêu thụ thịt heo của Việt Nam rất lớn và có thể tiếp tục tăng. Đó là chưa kể đến các loại thịt bò nhập khẩu, thịt và trứng gia cầm.

Nghịch lý chăn nuôi

Việt Nam có khí hậu nhiệt đới, quanh năm mưa nắng bất thường nên dịch bệnh luôn bùng phát, nguy cơ người chăn nuôi mất trắng dễ xảy ra. Bên cạnh đó, những yếu tố đầu vào như TĂCN, thuốc thú y ngày một tăng, cũng tạo áp lực lớn. Việc sử dụng chất tạo nạc là hệ quả của sự cạnh tranh lẫn nhau vì lợi nhuận của người chăn nuôi và công ty sản xuất TĂCN.

bao30

 

Thịt sạch nhập ngoại tràn vào Việt Nam - Nguồn: standardmeat.com

Theo Hiệp hội Sản xuất TĂCN Việt Nam, mỗi năm nước ta tiêu thụ khoảng 21 triệu tấn TĂCN các loại (14 triệu tấn từ sản xuất nông nghiệp và 7 triệu tấn do tự chế) và với sự tăng trưởng của ngành chăn nuôi, nhu cầu tiêu thụ TĂCN sẽ tăng thêm 1 triệu tấn mỗi năm. Nhìn tổng thể, đây là yếu tố tích cực - cơ hội cho nhiều công ty trong ngành và ngoài muốn nhảy vào. Để bán được TĂCN, cách thức quảng cáo cơ bản là thức ăn của công ty giúp heo, gà lớn nhanh. Muốn lời quảng cáo đúng sự thật, họ phải sử dụng những chất tăng trọng, tạo nạc để trộn vào TĂCN. Với người chăn nuôi, áp lực dịch bệnh, giá cả bấp bênh khiến việc chọn mua chất tăng trọng để cho gia súc, gia cầm ăn trong một lứa nuôi là điều khó tránh. Chính vì thức ăn có chất tăng trọng, tạo nạc đã tạo ra những sản phẩm “bẩn”.

Người tiêu dùng bắt đầu nhận thấy ăn cái gì cũng lo, cũng sợ bệnh tật. Do đó, phong trào tự gia công nguồn thực phẩm nở rộ gần đây. Bên cạnh đó, người tiêu dùng cũng tìm kiếm nguồn thực phẩm sạch mà trong bối cảnh vàng thau lẫn lộn như hiện nay, họ như lạc vào ma trận và không thể biết sản phẩm được quảng cáo có sạch như tên gọi không. Trước nhu cầu của người tiêu dùng, một số công ty đã nhập khẩu thịt từ các nước quảng cáo là thịt sạch để bán cho người tiêu dùng. Về phần mình, khi không còn tin tưởng nguồn sản phẩm nội địa, người tiêu dùng quay sang đặt niềm tin vào sản phẩm thịt nhập khẩu.

Cần sản phẩm có nguồn gốc sản xuất

Chị Lê Thị Thanh Trang, Gò Vấp, TP. HCM cho biết, người Việt Nam có thói quen thích ăn thịt tươi, không qua ướp lạnh. Tuy nhiên, thịt tươi khó đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm vì đa phần bán ở chợ, luôn tiếp xúc không khí, ruồi nhặng; chưa kể, trong thịt có chứa chất tăng trọng. “Tôi không biết tác hại của chất mà người ta trộn vào TĂCN để heo nhanh lớn, tỷ lệ nạc cao sẽ ảnh hưởng như thế nào đến sức khỏe nhưng nếu theo cảnh báo của cơ quan chức năng, tôi sẽ cẩn thận hơn”, chị Trang chia sẻ. Hiện chị Trang và một số người tiêu dùng bắt đầu chuyển sang dùng thịt đông lạnh. Khảo sát nhanh của chúng tôi tại một số siêu thị trên địa bàn TP. HCM cho thấy, lý do người tiêu dùng chọn mua thực phẩm đông lạnh nhập khẩu vì tiện lợi, giá cả không quá cao và quan trọng hơn là ở trên mỗi bao bì sản phẩm đều ghi rõ nguồn gốc xuất xứ.

Tuy nhiên, sản phẩm đông lạnh nhập khẩu có thể là sản phẩm sạch nhưng chưa hẳn ngon. Có một thời, thị trường Việt Nam tràn ngập gà đông lạnh nhập khẩu từ Hàn Quốc. Sau đó, người ta mới phát hiện ra số gà này đa phần là gà thải loại. Trước áp lực dư luận, các nhà xuất khẩu thịt gà đông lạnh Hàn Quốc phải đến Việt Nam, sau đó thịt gà Hàn Quốc được đổi thành gà dai Hàn Quốc.

Khi được hỏi về vấn đề này, ông Nguyễn Xuân Bình, nguyên Giám đốc Cơ quan Thú y vùng 6, có văn phòng ở TP. HCM  nói rằng, khi một sản phẩm đông lạnh nhập vào cảng TP. HCM, nhiệm vụ của cơ quan thú y là kiểm tra xem sản phẩm đó có đảm bảo các tiêu chí về vi sinh, và an toàn thực phẩm theo tiêu chuẩn Việt Nam hay không, nếu đảm bảo thì sẽ cho tiêu thụ tại Việt Nam. Còn chất lượng sản phẩm như thế nào, hàm lượng dinh dưỡng ra sao không nằm trong thẩm quyền của cơ quan thú y.

Một kỹ sư chăn nuôi cho biết, nếu gà nuôi theo hướng công nghiệp đẻ trứng, gà được cho ăn nhiều loại kháng sinh khác nhau trong vòng đời. Có thể trong thịt gà sẽ chứa một hàm lượng kháng sinh nhất định nhưng điều này chưa hẳn là vô hại với người tiêu dùng. Trong chăn nuôi, hầu như các nước đều sử dụng kháng sinh. Năm 2015, Cục Thú y kiểm nghiệm 35 mẫu đùi gà của Mỹ nhập vào Việt Nam và phát hiện 17 mẫu chứa kháng sinh; trong đó 4 mẫu dương tính kháng sinh chlotetracyclin, 13 mẫu dương tính kháng sinh oxytetracyclin. Năm 2016, Hiệp hội Chăn nuôi Đông Nam bộ cũng đã phân tích mẫu thịt gà nhập khẩu của Mỹ và phát hiện những sản phẩm này có tỷ lệ các loại vi sinh cao.

Theo đánh giá của Hiệp hội Chăn nuôi Đông Nam bộ, thịt nhập khẩu sẽ là đối thủ cạnh tranh với thịt sản xuất trong nước. Tuy nhiên, trong bối cảnh hội nhập sâu rộng, việc lưu thông hàng hóa là điều khó tránh. Nhưng thị phần của những sản phẩm nhập khẩu được gắn mác “thịt sạch” chiếm lĩnh thị trường đến đâu, ít nhiều phụ thuộc vào sự phát triển của ngành chăn nuôi trong nước. Nếu người tiêu dùng trong nước vẫn sản xuất những sản phẩm có hàm lượng chất kháng sinh, chất cấm cao thì người tiêu dùng sẽ chuyển sang tìm kiếm nguồn cung thịt đảm bảo khác để bảo vệ sức khỏe.

Câu hỏi thịt sạch ngoại nhập tràn vào Việt Nam là buồn hay lo cho ngành chăn nuôi trong nước khó trả lời. Với một quốc gia có tổng đàn chăn nuôi thuộc top 10 thế giới nhưng phải nhập thịt chứng tỏ nhu cầu tiêu thụ nội địa lớn hơn sản xuất. Đó có thể là tin vui vì ngành chăn nuôi vẫn còn dư địa để phát triển. Ở chiều hướng ngược lại, chúng ta buồn vì vẫn chưa sản xuất được những sản phẩm thịt sạch đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng, buộc doanh nghiệp phải nhập khẩu để bù vào. Tuy nhiên, cái buồn này cũng sẽ giúp ngành chăn nuôi nhìn lại mình để thay đổi, phải sản xuất được thịt an toàn hơn, sạch hơn… để cạnh tranh với sản phẩm nhập khẩu. Cạnh tranh để giúp mình hoàn thiện hơn, đôi khi cũng là một động lực.

>>  Theo Cục Chăn nuôi, trung bình mỗi năm Việt Nam nhập khoảng trên dưới 100.000 tấn thịt các loại, trong đó, khoảng 70% là thịt gà. Đó là chưa kể một số lượng lớn bò nguyên con Việt Nam nhập từ Úc về xẻ thịt bán trong nước.

Tiểu Kiều

Nguồn tin: báo Người chăn nuôi