Một số bệnh truyền nhiễm ở lợn

Hiện nay hầu hết các bà con chăn nuôi ta ai cũng đều biết tới cụm từ rất quen thuộc đó là “ bốn bệnh đỏ” , đây là bốn bệnh phổ biến nhất trong chăn nuôi gia súc (cụ thể là lợn), nó là bốn bệnh được khuyến cáo là cần tiêm vacxin cùng với các bệnh như: lở mồm long móng (FMD) hay bệnh mới xuất hiện tai xanh (PRRS).


Vậy bốn bệnh đỏ gồm những bệnh gì?  lý do tại sao nó lại nguy hiểm? và những hiểu biết cơ bản về nó. Sau đây là một số vấn đề cơ bản người chăn nuôi cần biết, mong rằng bà con sẽ cẩn thận hơn, đừng chủ quan về chúng. 

 

1. Bệnh Phó thương hàn lợn ( Salmonella cholerae suis )

Nguyên nhân gây bệnh phó thương hàn lợn

Là những chủng vi khuẩn thuộc loài Salmonella có những đặc tính hình thái và sinh vật hóa học chung là gram âm, di động, tất cả là hiếu khí và yếm khí tùy tiện, có lông quanh thân. Là vi khuẩn có sức gây bệnh khoẻ và phổ biến ở khắp mọi nơi. Nó sinh sản ở 7 - 450C, sống sót trong đông lạnh và sấy khô tốt, có thể sống nhiều tuần, nhiều tháng và nhiều năm trong các chất hữu cơ thích hợp như trong bột thịt làm phân bón là 8 tháng, trong cống rãnh là 47 ngày. Chúng sống sót kém ở pH dưới 5. Chúng bị vô hoạt khi đun nóng hay tác động của ánh sáng mặt trời. Vi khuẩn bị nhiệt độ 600C tiêu diệt trong 1 giờ, 700C trong 20 phút, ánh sáng mặt trời chiếu thẳng diệt vi khuẩn trong 5 giờ. Vi khuẩn không hình thành nha bào và dễ bị phá hủy bởi các chất diệt trùng như phenol, chlorin, iodine. Bệnh phó thương hàn lợn chủ yếu gây ra do S. cholerae suis chủng Kunzendorf.

Ngoài ra cũng thường gặp S. enteretidis trong các bệnh phó thương hàn chủ yếu gây viêm não ở lợn bú sữa và S. dublin với tỷ lệ thấp cũng gây viêm não ở lợn đang bú sữa.

Cơ chế tóm tắt quá trình sinh bệnh như sau

Thời kỳ nung bệnh từ 3 - 6 ngày, có khi kéo dài đến tuần lễ hay một tháng tùy thuộc số lượng vi khuẩn xâm nhập, độc lực của vi khuẩn và sức đề kháng của cơ thể. S. cholerae suis vào cơ thể theo đường tiêu hóa vào hầu, ruột sinh sản và chui qua niêm mạc ruột, dạ dày gây thủy thủng, hoại tử cục bộ, xuất huyết, gây viêm ruột, viêm dạ dày, sau đó vi khuẩn xâm nhập vào các tổ chức lâm ba gây phản ứng hạch viêm, sưng hạch và từ đó vào máu gây bại huyết. Ở những con vật qua khỏi bệnh, vi khuẩn có khuynh hướng cư trú ở một số phủ tạng như gan, đặc biệt ở hạch lâm ba… Nội độc tố đóng vai trò rất to lớn trong quá trình gây bệnh. Nội độc tố ảnh hưởng đến plasma, khả năng đông máu, phản ứng viêm đau đầu tiên, kích thích tiểu cầu và tấn công bạch cầu. Phản ứng sốt và trúng độc máu của bệnh cũng trực tiếp do ảnh hưởng của nội độc tố.

Triệu chứng

Triệu chứng lâm sàng lợn được phân biệt làm 2 thể chính : Bại huyết và viêm ruột, thỉnh thoảng trong ổ dịch có kết hợp với viêm phổi, viêm não.

Thể bại huyết: Thường do S. cholerae suis và thấy ở lợn con sau cai sữa và chưa đến 5 tháng tuổi gây chết đột ngột, có thể thấy từng con riêng lẻ cũng có thể gây thành dịch, rất hiếm khi thấy ở lợn bú sữa.

Triệu chứng: Lợn bệnh bỏ ăn đột ngột, biến vận động, sốt 40,50C - 41,60C. Nhiều con dồn lại một góc chuồng. Dấu hiệu đầu tiên lợn chết với vết tím bầm ở bụng và chân. Từ ngày phát bệnh cho đến ngày thứ 4 không có dấu hiệu tiêu chảy, đến ngày thứ 5 phân có màu vàng, toàn nước có thể thấy phần lớn trong các ổ dịch, tỷ lệ mắc bệnh ít hơn 10%, tỷ lệ chết cao. Những lợn khỏi bệnh mang trùng và thải trùng.

Bệnh tích: Lách sưng to dai như cao su, hạch lâm ba sưng to, màu đỏ thắm, thận có điểm xuất huyết ở vùng vỏ, gan tụ máu có nốt hoại tử bằng hạt kê. Niêm mạc dạ dày va ruột viêm đỏ, có điểm xuất huyết, có khi có vết loét như hạt đậu. Trong một số trường hợp khác ruột già hình thành mụn loét lan tràn, phổi tụ máu và có các ổ viêm, ruột sưng nhiều nước.

Chẩn đoán lâm sàng thể bại huyết không thể dựa vào triệu chứng lâm sàng vì nó giống với các bệnh khác như nhiễm trùng huyết đặc biệt là đóng dấu son, nhiễm trùng huyết do streptococcus hay đột ngột chết do actino bacillus pleuropneumonia. Bệnh tích đại thể như sưng lách, sưng manh tràng, hạch lâm ba hay hoại tử ở gan đều có thể nghi ngờ là phó thương hàn nhưng lại không thấy trong một số trường hợp. Do đó phải phân lập vi khuẩn S. cholerae suis kunzendorf mới khẳng định được.

Thể viêm ruột: Phó thương hàn thể viêm ruột là thường gặp nhất ở lợn cai sữa 4 tháng tuổi. Bệnh ở dạng cấp tính hay mãn tính có thể do S. cholerae suis. Ổ dịch do S. typhimurium thường xảy ra ở đàn lợn giống, cơ sở thí nghiệm và ở đàn này rất mẫn cảm có tỷ lệ chết cao.

Triệu chứng lâm sàng: Dấu hiệu đầu tiên là lợn đi phân loãng màu vàng. Bệnh lây lan nhanh trong toàn bầy lợn trong một vài ngày. Hiện tượng kéo dài 3 đến 7 ngày, máu có thể xuất hiện trong phân nhưng không có nhầy như trong bệnh lỵ của lợn. Lợn bệnh sốt bỏ ăn hoặc ăn ít, mất nước nặng. Tỷ lệ chết thường thấp và chỉ xuất hiện sau mấy ngày khi có triệu chứng tiêu chảy. Đa số lợn được phục hồi, hết triệu chứng lâm sàng nhưng mang trùng và thải trùng ít nhất là 5 tháng.

Bệnh tích: Lợn chết do tiêu chảy có bệnh tích viêm đại tràng thành ổ hay lan toả nó cũng có ở ruột non, Bệnh tích là những mảnh vàng xám dính vào bề mặt, niêm mạc đỏ và gồ ghề của kết tràng và manh tràng, hạch lâm ba manh tràng sưng to và có nhiều nốt hoại tử có thể thấy như những loét cúc áo có viền sắc cạnh. Trong trường hợp bệnh S. tryphimurium thấy gan và lách không bị sưng to ngoại trừ xuất huyết ngoài rìa.

Chẩn đoán phân biệt tiêu chảy ở lợn sau cai sữa bao gồm: Phó thương hàn, lỵ, viêm ruột tăng sinh và hoại tử do Campylobacter. Các bệnh do vi virus hay do vi khuẩn khác và ký sinh trùng cũng có khả năng gây tiêu chảy bao gồm : Rotavirus, viêm ruột do Coronavirus, bệnh do Colibaccille ở lợn cai sữa, Trichurus, cầu trùng lợn…Nhưng những bệnh này đều có những điểm khác với tiêu chảy do phó thương hàn lợn, dạng cấp tính thì phân tiêu chảy ra máu và nhầy còn phó thương hàn thì tiêu chảy ra nước màu vàng, ít hơn và lợn gầy rạc. Nhưng cũng có khi triệu chứng giống nhau thì phải mổ khám để xác định. Còn viêm ruột tăng sinh hay hoại tử có thể thấy xuất huyết ruột cấp tính hay tiêu chảy mãn tính.

Phòng và khống chế bệnh

Biện pháp vệ sinh và quản lý

Lợn là ký chủ đặc biệt của S.cholerae suis nên vấn đề quan trọng là phải phòng không cho lợn có điều kiện tiếp xúc với bệnh. Như trên đã nói, lợn bệnh và mang trùng là nguồn lây lan bệnh nên các biện pháp vệ sinh phòng dịch, cách ly, xử lý những bầy lợn mắc bệnh là rất quan trọng. Bệnh còn do các loài vi khuẩn Salmonella khác nên việc quản lý đàn lợn tránh lây nhiễm từ những động vật khác (chuột, chó, mèo) cũng quan trọng.

Do nhiều yếu tố thúc đẩy những con bệnh tiềm ẩn phát bệnh và là nguồn lây lan cho đàn như nhốt quá chật chội, stress do vận chuyển, loại thức ăn có nhiều Salmonella (bột thịt) cho nên thường xuyên quan tâm vấn đề này.

 Tiêm phòng vacine

Tốt nhất tiêm cho lợn mẹ có chữa, trước khi phối giống để con sinh ra có kháng thể do sữa truyền sang có khả năng chống bệnh trong thời gian đầu. Đối với lợn con ở những nơi gây nhiễm không cao thì tiêm phòng vào lúc 2 tháng tuổi. Đối với những nơi có dịch có khả năng uy hiếp đàn lợn thì 1 tháng tuổi có thể tiêm ½ liều nhưng nhất thiết 2 tháng tuổi phải tiêm lại.

Trị bệnh

Các kháng sinh dùng có hiệu quả là:

- Oxycaf, Biocortyl O.P.C, T.C.P, TyloPC, TyloDC. Liều dùng 1 - 2ml cho 10kg thể trọng (20mg/kg).

- Gentamycine: 20 - 50 mg/kg, 2 lần trong ngày.

- Các Sulfamid: sulfadiazine, sulmet, streptotryl 24% dùng 1ml/5 - 10 kg thể trọng.

- Nếu dùng cả đàn thì dùng Nitrofurazone hay phối hợp Chlorateracyclin với Sulfamethazine (75mg của mỗi thứ cho 1 lít nước).

Ngoài ra phải dùng các loại bù chất điện giải và mất nước như dung dịch Sodium bicarbonate 5%, nước muối sinh lý 0,9%...

 

2. Bệnh Dịch tả lợn (Hog cholera)

(Swine fever)

 Lợn là đối tượng chăn nuôi phổ biến ở tất cả các địa phương và là nguồn thu nhập chính của nhiều hộ gia đình. Từ đó trình độ nhận thức về công tác thú y cũng được nâng cao, người chăn nuôi đã mạnh dạn áp dụng các biện pháp kỹ thuật vào sản xuất, đặt biệt là các biện pháp an toàn sinh học và quy trình tiêm chủng Vaccine. Tuy nhiên, bệnh trên lợn vẫn thường xảy ra rải rác, trong đó bệnh dịch tả lợn gây nhiều tổn thất đáng kể cho người chăn nuôi.

Nguyên nhân

Bệnh gây ra do một loại virus có sức đề kháng cao, tồn tại lâu ở ngoại cảnh, bị tiêu diệt bởi xút (NaOH), vôi (CaOH) 5%. Ở nhiệt độ cao virus bị tiêu diệt nhanh. Virus xâm nhập chủ yếu qua đường tiêu hóa, qua niêm mạc, qua vết thương ở da và một phần qua hệ thống hô hấp.

Triệu chứng bệnh tích

Sau thời gian nung bệnh từ 3 - 7 ngày bệnh xuất hiện 3 thể

- Thể quá cấp tính: Bệnh phát ra nhanh, con vật ủ rũ, bỏ ăn, sốt cao 41 - 420C, con vật dẫy dụa rồi chết. Diễn biến trong vòng 1 - 2 ngày, tỷ lệ chết cao.

- Thể cấp tính: Lợn ủ rũ, kém ăn, rồi bỏ ăn, sốt cao 41 - 42 0C kéo dài đến lúc gần chết, mắt viêm đỏ có ghèn, chảy nước mủi, miệng có loét phủ nhựa vàng ở lợi, chân răng, hầu… lợn thường bị ói mửa, thở khó, nhịp thở rối loạn. Lúc đầu táo bón sau đó tiêu chảy phân bết vào mông, đuôi mùi rất thối khắm có khi có máu tươi. Trên da có nhiều điểm xuất huyết lấm tấm ở đầu, bụng, sau tai, 4 chân… Vào cuối kỳ bệnh, lợn bị bại 2 chân sau đi loạng choạng hoặc không đi được. Nếu ghép với các bệnh khác thì các triệu chứng trên trầm trọng hơn.

- Thể mãn tính: Lợn tiêu chảy gầy yếu, lợn chết do kiệt sức, lợn có thể khỏi bệnh nhưng vẫn mang virus. Mổ khám bệnh tích ở thể cấp tính thấy có sự bại huyết , xuất huyết nặng ở các cơ quan nội tạng, có loét ở đường tiêu hóa, dạ dày bị tụ huyết, xuất huyết thường nặng ở đường cong lớn, ở ruột già có xuất huyết có những vết loét hình cúc áo, bờ vết loét cao phủ nhựa vàng. Phổi bị xuất huyết và tụ huyết. Tim bị xuất huyết ở mỡ vành tim, ở ngoại tâm mạc, gan bị tụ huyết xuất huyết, túi mật có những điểm xuất huyết. Lách có hiện tượng nhồi huyết ở rìa làm cho lách có hình răng cưa, thận có nhiều điểm xuất huyết lấm tấm như đầu ghim ở vỏ thận và tủy thận, niêm mạc bàng quang bị tụ huyết, xuất huyết.

Trong trường hợp bệnh mãn tính thường thấy ở ruột, phổi. Ruột có những vết loét lõm sâu, bờ cao phủ nhựa vàng, phổi có thể bị viêm dính vào lồng ngực.

 Trên thực tế hiện nay bệnh thường xảy ra có ghép với một số bệnh khác nên triệu chứng và bệnh tích có thay đổi tùy theo ghép với bệnh nào.

Phòng trị bệnh

Không có thuốc điều trị, Phải tiêm phòng Vaccine đúng lịch trình, khi lợn mua về phải nhốt riêng ít nhất 3 tuần. Nếu không có bệnh, mới cho nhập đàn, định kỳ vệ sinh, sát trùng chuồng trại, khi có dịch xảy ra lợn bệnh phải được xử lý.

 

3. Bệnh tụ huyết trùng (Pasteurellosis)

Trong điều kiện thời tiết hiện nay ngày nắng nóng, sáng sớm sương mù dầy đặc là môi trường thích hợp cho vi trùng có cơ hội xâm nhập vào cơ thể gia súc gây bệnh, nhất là thời điểm đang giao mùa. Nếu gặp mưa sẽ là phát sinh bệnh trên đàn gia súc, thường gặp là bệnh tụ huyết trùng .

Nguyên nhân

Bệnh tụ huyết trùng là một bệnh truyền nhiễm gây ra do  trực cầu khuẩn Pasteurella multocida gây ra với chứng tụ huyết, xuất huyết ở những vùng da non trên cơ thể. Sau cùng vi khuẩn xâm nhập vào máu gây nhiễm trùng  huyết toàn thân.

Vi trùng xâm nhập chính qua đường tiêu hóa, qua thức ăn, nước uống vào cơ thể. Sự xâm nhập dễ dàng nếu niêm mạc có vết thương. Vi khuẩn xâm nhập qua đường hô hấp nhất là phần hô hấp trên.

Triệu chứng

1. Trâu bò:

Thể quá cấp: Gia súc thường chết nhanh có triệu chứng thần kinh. Vật trở nên hung dữ , có thể chết trong vòng 24 giờ. Thể này xảy ra ở gia súc non  từ  6 - 18 tháng tuổi có triệu chứng thần kinh, giẫy dụa, run rẩy, lăn ra chết. Lúc đang ăn, bỏ chạy như điên, ngã xuống  chết.

Thể cấp tính: Thời gian nung bệnh ngắn từ 1 - 3 ngày. Thú không nhai lại, bứt rứt khó chịu. Cơ thể sốt cao, nhiệt độ từ 40 - 420C. Niêm mạc mắt mủi đỏ ửng. Con vật chảy nước mắt, nước mủi, nước dãi. Ngoài ra thú có triệu chứng cục bộ do vi trùng xâm nhập.

Thể mãn tính: Bệnh kéo dài ở cuối ổ dịch do sức đề kháng của thú tốt, nhờ chăm sóc nuôi dưỡng. Có trường hợp viêm ruột tiêu chảy, có trường hợp viêm phổi ho từng cơn. Bệnh tiến triển vài tuần hoặc hàng tháng, con vật suy nhược kéo dài dẫn đến kiệt sức rồi chết.

Thể quá cấp và thể cấp tính thường thấy triệu chứng hạch, hầu sưng to, chèn ép làm lưỡi thè ra do ngạt thở.

2. Lợn:

Thời gian nung bệnh khoảng 2 ngày gồm 3 thể :

Thể quá cấp tính: Thể này phát ra ở thời kỳ đầu ổ dịch, bệnh ít xảy ra, thời gian ngắn vài giờ, lợn bị phát bệnh lăn ra chết. Trước khi chết thấy lợn khỏe mạnh, bỏ ăn sốt cao 420C. Sau vài giờ lợn khó thở, sau một hồi lợn bị kích thích thần kinh chạy lung tung kêu la rồi lăn ra chết.

Thể cấp tính :  Lợn mắc bệnh phổ biến ở thể này, lợn ủ rũ, ăn ít hoặc bỏ ăn, ít vận động, sốt 410C. Niêm mạc mủi có hiện tượng viêm sưng ửng đỏ, rối loạn hô hấp. Lúc đầu lợn thở nhanh không đều sau khó thở, ho khan, ho từng tiếng, sau ho liên tục. Khi ho, ngồi như chó. Nhịp tim tăng, lợn run rẩy chảy nước mắt, da ở tai, đùi, dưới da bụng nổi lên từng đám có màu đỏ. Vài hôm sau chuyển sang màu tím. Hầu của lợn bị sưng thủy thủng nặng kéo dài đến tận ngực rồi chết.

Thể mãn tính : Thể này thường tiếp theo thể cấp tính nhưng nhẹ hơn chủ yếu là hô hấp, con vật thở khó, thở nhanh, thở khò khè, ho từng hồi, ho liên miên kéo dài. Hiện tượng viêm khớp, sưng khớp, sưng đầu gối, lợn đi khập khiễng. Ở thể nặng miệng xuất hiện màng giả trắng đục có mùi hôi. Sau 5 - 6 tuần lợn chết do suy nhược.

Bệnh tích

1.Trâu bò

Tụ máu ở cơ quan phủ tạng, tổ chức liên kết, dưới da xuất huyết. Niêm mạc, bắp thịt xuất huyết lấm tấm, thịt nhão ướt. Gan thận viêm. Màng phổi xuất huyết lốm đốm, phổi viêm, ngoại tâm mạc viêm.

2. Lợn

Có bệnh tích tụ huyết, xuất huyết. Phổi bị viêm tụ máu thành đám nhất là vùng sâu hoặc phía sau. Khí quản, phế quản tụ máu, xuất huyết có bọt nhớt màu hồng. Màng phổi viêm dính vào lồng ngực. Viêm da có những vết, mảng đỏ sẩm, tím bầm ở ngực, bụng, dưới da bụng.

Phòng bệnh

1. Trâu bò

Phòng bệnh bằng vệ sinh,sử dụng thức ăn hợp lý, tiêu độc chuồng trại. Không vận chuyển và giết mổ gia súc bị bệnh ra khỏi ổ dịch.

Tiêm phòng định kỳ cho trâu bò định kỳ hằng năm bằng vaccin tụ huyết trùng nhất là đầu mùa mưa.

2. Lợn

Phòng bệnh bằng vệ sinh chăm sóc, bồi dưỡng tốt để tăng cường sức đề kháng, tăng sức chống đỡ của con vật. Giữ chuồng khô ráo sạch sẽ, thoáng mát. Tiêu độc chuồng trại và dụng cụ chăn nuôi bằng thuốc sát trùng. Phòng bệnh bằng vaccin tụ huyết trùng hai lần trong năm.

Để bảo vệ đàn gia súc  bà con nên liên hệ cán bộ Thú y hoặc tạo điều kiện cho Cán bộ  Thú y  tiêm phòng vaccin tụ huyết trùng đàn gia súc của mình.   

                                            

4. BỆNH ĐÓNG DẤU LỢN (ERYSIPELAS SUUM)

SWINE erysipelas

Bệnh có ở nhiều nơi trên thới giới :Châu Âu, Châu Mỹ , Châu Úc, Châu Á, Châu phi. Ở nước ta bệnh có ở các miền, các tỉnh vùng đồng bằng, vùng đất phù sa, vùng ven biển, vùng kinh tế mới thường xảy ra bệnh này.

Nguyên nhân

- Bệnh gây ra do trực khuẩn lợn đóng dấu Erysipelothiix rhuiopathiae, nhỏ, thẳng , có khi hơi cong, gram (+)

- Vi khuẩn lợn đóng dấu có nhiều chủng khác nhau, có nhưỡng chủng có độc lực cao. Vi khuẩn có nhiều trong đất , nước ,phân...vì thế chúng còn có tên là trực trùng thổ nhưỡng. Sức đề kháng của nó khá cao : trong phủ tạng xác chết thối có thể sống được 4 tháng , trong xác đem chôn dưới đất sống được 9 tháng, ở ngoài dưới ánh sáng mặt trời sống được 12 ngày.

- Điều kiện chăn nuôi không có chuồng trại, nuôi bằng cách thả lan. Ngoài ra nuôi có chuồng nhưng nền chồng bằng đất.

- Điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng kém không vệ sinh thường xuyên, chuồng trại trại bị mưa tạt, gió lùa.

- Thức ăn và nước uống không vệ sinh như:thức ăn cơm cặn cá thừa còn nguồn nước cho gia súc uống chủ yếu từ sông gạch, kênh mương.

Truyền nhiễm học

- Loài mắc bệnh:

Trong thiên nhiên loài lợn dễ nhiễm bệnh nhất.

Loài chim cũng có thể mắc bệnh này.

Bệnh còn lây sang cả người.

Bệnh thường phát vào vụ đông xuân tháng 10 - 11 hay vào mùa hè thời tiết nóng bức, khí hậu thay đổi đột ngột, chuồng nóng sức khỏe lợn giảm sút.

- Chất chứa vi khuẩn:

+ Trong cơ thể lợn mắc bệnh, vi khuẩn có trong máu,các tổ chức các chất bài tiết như nước tiểu, phân, sữa, các phủ tạng. Hạch chứa nhiều vi khuẩn. Lợn khỏe có thể mang vi khuẩn này. Một số loài động vật như cá (nước ngọt, nước mặn) ếch , cua, tôm, sò, trai... cũng có thể mang vi khuẩn.

+ Trong thiên nhiên vi khuẩn đóng dấu lợn có thể ở khắp nơi trong đất, nước, chỗ ẩm, phân rác, nền chuồng.....

- Đường xâm nhập:

Vi khuẩn có thể xâm nhập vào cơ thể qua đường tiêu hóa và qua da.

- Cách sinh bệnh:

Vi khuẩn có thể có sẵn trong cơ thể lợn hoặc từ ngoài vào và chỉ gây bệnh khi sức đề kháng của cơ thể kém.

Vi khuẩn qua vết thương ở ống tiêu hóa, hầu, ruột, hạch hạnh nhân(amidan) vào hạch lâm ba rồi từ đó vào huyết quản, vào máu, vào bộ máy tuần hoàn gây bại huyết. Vi khuẩn phát triển trong máu, độc tố của chúng phá hoại thành huyết quản, gây tụ máu, ứ máu, vết đỏ trên da...

- Cách lây lan:

Bệnh có thể lây trực tiếp hoặc gián tiếp qua thức ăn , nước, các chất bài tiết hoặc do vận chuyển, mổ thịt các loài vật mắc bệnh.

Triệu chứng

Thời kỳ nung bệnh : 1 - 8 ngày. Ở nước ta bệnh này thường gặp ở ba thể : thể quá cấp, thể cấp và thể mãn tính.

Ở các nước Phương Tây lợn bị bệnh còn ở thể thứ cấp hay thể ngoài da.

- Thể quá cấp tính hay thể kịch liệt:

Lợn bị bại huyết nặng , chết nhanh chóng trong vòng 2 đến 3 giờ hoặc 12 đến 24 giờ. Thân nhiệt đột ngột lên cao, mắt đỏ, điên cuồng, lồng lộn sau rúc đầu vào khe tường hoặc hộc máu ra rồi chết. Vì lợn chết quá nhanh nên các dấu đỏ ở ngoài da chưa kịp xuất hiện, không thấy triệu chứng lâm sàng.

Khi mổ xác chết mới thấy thận sưng, tụ máu từng đám, thịt nhiều khi còn thắng nên còn gọi là bệnh Đóng Dấu lợn trắng.

Ở lợn bột 15 đến 20 kg hoặc lợn nái có thai thường thấy ở thể này.

- Thể cấp tính hay thể bại liệt:

Vật nuôi ủ rũ, mệt mỏi, chê cám, chui đầu vào ổ rơm để nằm( có thể bị hôn mê). Sốt cao tới 420 - 430C trong 2 - 3 ngày. Mình nóng , da khô, đi run rẩy. Đi táo khi sốt , phân màu đen có màng nhầy bọc ở ngoài, nôn mửa. Về sau đi lỏng hay đi lỵ có máu. Kết mạc mắt viêm, mắt đỏ, mí mắt sưng, chảy nước mắt, viêm niêm mạc mủi, chảy nước mủi.

Sau 2 - 3 ngày trên da xuất hiện những vết đỏ(nhiều hình khác nhau) ở sau tai, lưng, ngực, bụng. Dần dần vết đỏ tập trung thành từng mảng to có giới hạn rõ rệt, dấu đỏ thành nhiều hình : tròn, vuông, quả trám... lúc đầu màu còn tươi sau sẫm và tím bầm, khi lợn chết dấu có màu xanh tím. Lấy ngón tay ấn vào các dấu trên thì dấu mất đi, nếu nâng tay lên thì dấu đỏ dần dần trở lại (điều đó chứng tỏ chỗ đó có hiện tượng tụ máu, xung huyết ở tĩnh mạch, không xuất huyết). Dạ dày cộm, xung quanh đường viền lấm chấm đỏ. Nếu bị nhiễm khuẩn da có thể bị loét,chảy nước vàng.Về sau da bong ra, mụn khô dần, để lại sẹo trắng. Các dấu đỏ có khi ăn sâu vào tận lớp mỡ. Thận sưng to, tụ máu. Nội và ngoại tâm mạc xuất huyết.

Con vật có thể khỏi sau 12 đến 15 ngày(thể thứ cấp). Bệnh tiến triển sau 3 đến 5 ngày, con vật thở khó , yếu dần, nhiệt độ hạ nhanh. Tỉ lệ chết 50 - 60%. Bệnh kéo dài có thể chuyển sang thể mãn tính.

- Thể mãn tính:

Vật nuôi ăn kém, gầy còm, thiếu máu, nhiệt độ bình thường hoặc sốt nhẹ. Con vật bị viêm khớp, đi lại khó khăn, có khi bị bại liệt chân. Ở lưng, bụng,vai,đầu,da bị sưng sau đó lan rộng ra thành từng mảng lớn. Nếu bị nhiễm trùng nung mủ thì mủ chảy ra, da khô dần, bong ra như tờ giấy bìa cuộn lại. Sau 15 - 16 ngày lớp da vảy rụng đi, da non mộc lên thành sẹo trắng. Sau 2 đến 3 tháng lông mọc trở lại. Ngoài những triệu chứng nói trên còn thấy các triệu chứng khác như đi ỉa chảy kéo dài do viêm dạ dày và ruột mãn tính, thiếu máu, lông rụng , lợi viêm loét.

Bệnh có thể kéo dài 3 - 4 tháng, nếu chăm sóc tốt có thể khỏi, những lợn cũng có thể chết do gầy yếu , kiệt sức.

Bệnh tích:

- Thể quá cấp:

Vì lợn chết nhanh nên không để lại dấu vết gì. Mổ khám nhận thấy thận bị sưng, có những đám tụ máu.

- Thể cấp tính:

Da và mô liên kết dưới da tụ máu đỏ hồng, các niêm mạc tương mạc tụ máu, xuất huyết. trên da có các dấu màu đỏ hay tím bầm ăn sâu vào da. Lách, thận sưng to, tụ máu màu đỏ nâu. Mặt lách sần sùi, nổi phòng từng chỗ. Ruột và dạ dày viêm đỏ.

Phúc mạc viêm có nước chảy ra.

Tim : Tụ huyết, xuất huyết, phổi tụ huyết.

- Thể mãn tín:

Viêm màng trong tim, van tim sần sùi nhất là van bên trái gây trở ngại cho tuần hoàn.

Viêm khớp xương bàn chân, đầu gối, lợn, gót. Đầu xương sần sùi.

Da khô, rộp lên từng mảng.

Viêm ruột mãn tính.

Bệnh có thể lây sang người do làm nghề chăn nuôi, mổ thịt, bán thịt, cá, thuộc da, thú y, đánh cá, cua tôm...trực tiếp với lợn ốm bị nhiễm trùng đóng dấu lợn hoặc bị nhiễm trùng do vết thương ngoài da bị nhiễm trùng từ các bệnh phẩm phủ tạng hoặc do ăn thịt lợn ốm. Ba bốn ngày sau khi bị nhiễm trùng người bị sốt, chỗ bị thương sưng , ngứa, nhứt nhói khó chịu. Các khớp xương gần đó bị sưng nhức có khi bị lan ra cả bàn tay. Hạch gần đó bị sưng, ngứa, gãi thành từng cơn.

Ngoài ra có người bị đau mình, nhức đầu, toàn thân mệt mỏi, cũng có người bị sưng hạch, viêm màng tim, màng óc.

Có người bị đau bụng, tiêu chảy. Bệnh tiến triển 5 - 15 ngày. Bệnh có thể khỏi nhưng đôi khi có người bị chết do bị viêm nội tâm mạc, bại huyết.

Chẩn đoán phân biệt:

- Dựa vào triệu chứng lâm sàng bệnh: cần phân biệt với một số bệnh như:

+ Bệnh dịch tả lợn: khi điều trị không giảm gì đặc thù bệnh do virus.

+ Bệnh tụ huyết trùng:liệu trình điều trị dùng thuốc giống như bệnh đóng dấu lợn sẽ khỏi nếu phát hiện sớm điều trị kịp thời.

+ Bệnh phó thương hàn: do giai đoạn tuổi mắc bệnh từ 15 - 30 kg còn bệnh đóng dấu son thường lớn hơn nên phân biệt độ tuổi ( qua thời gian )

- Chẩn đoán vi khuẩn học:

Kiểm tra dưới kính hiển vi

Nuôi cấy và phân lập

Tiêm truyền cho động vật thí nghiệm: chuột Bạch, Bồ Câu

Chẩn đoán huyết thanh học.

Phản ứng ngưng kết.

Phản ứng kết tủa, khuếch tán trên thạch.

Phòng trị bệnh

Phòng bệnh

+ Tiêm Vaccin  định kỳ, 6 tháng/lần, liều tiêm theo hướng dẫn của nhà sản xuất.

+ Vệ sinh chăm sóc nuôi dưỡng tốt.

+ Sử dụng thức ăn và nước uống hợp vệ sinh.

+ Mật độ nuôi thích hợp.

Điều trị:

+ Kháng huyết thanh đóng dấu.

+ Trị nguyên nhân dùng các loại thuốc sau:

* Pen -Trep 1gr /30kg p/ ngày 2 lần, liên tục 3 - 5 ngày (tiêm bắp).

* Ka-ampi 1gr /30kg p/ ngày 2 lần, liên tục 3 - 5 ngày (tiêm bắp)

+ Điều tri triệu chứng :

* Anazin-C 1ml/10kgP/ ngày 2 lần, liên tục 3 - 5 ngày (tiêm bắp).

* Bcomplex 1ml/10kgP/ ngày 2 lần, liên tục 3 - 5 ngày (tiêm bắp). 

Nguồn tin: TTKNKNQuảng Trị